Đơn hàng bao bì nhựa sẽ dịch chuyển từ Trung Quốc sang Việt Nam?

 

 

Theo “Thời báo Kinh tế Sài Gòn”

Đang có động thái các nhà sản xuất bao bì nhựa ở Trung Quốc tìm hiểu về khả năng dịch chuyển đơn hàng xuất khẩu sang thị trường Mỹ qua Việt Nam sản xuất nhằm né thuế bị đánh cao vào mặt hàng này từ thị trường Trung Quốc.

Chia sẻ với Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online trong quá trình tham gia Triển lãm quốc tế ngành công nghiệp nhựa và cao su (VietnamPlas 2018) đang diễn ra tại TPHCM, bà Anna Ho, CEO của Công ty Silstar Machinery, nhà cung cấp máy móc thiết bị cho các nhà sản xuất các sản phẩm bao bì nhựa, cho biết cả tháng nay bà liên tiếp đón các đoàn doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm bao bì nhựa của Trung Quốc cũng như các nhà mua mặt hàng này từ Mỹ để tìm hiểu khả năng sản xuất mặt hàng này của doanh nghiệp Việt Nam.

Theo bà Anna Ho, từ ngày 1-10 rồi, Mỹ bắt đầu áp thuế nhập khẩu 10% từ thị trường Trung Quốc đối với nhóm mặt hàng nói trên thay vì trước đó là 0%. Và dự kiến đến đầu năm 2019, Mỹ sẽ tiếp tục áp thuế nhập khẩu nhóm mặt hàng này từ Trung Quốc tăng lên 25%. Điều này buộc các nhà sản xuất nhóm mặt hàng này ở Trung Quốc tìm đường chuyển đơn hàng sản xuất sang những nước khác mà không bị Mỹ đánh thuế nhập khẩu cao.

So với những nước khác trong khu vực, Việt Nam được đánh giá có nhiều lợi thế cạnh tranh về sản xuất mặt hàng bao bì nhựa  nên khi gặp sự cố chiến tranh thương mại Mỹ-Trung, thì các nhà sản xuất nhóm mặt hàng này của Trung Quốc tìm đến Việt Nam.

Là nhà sản xuất và cung cấp thiết bị ngành này cho doanh nghiệp Việt Nam được khoảng 10 năm nay với hơn 2.000 sản phẩm bao bì các loại, Silstar Machinery được các nhà sản xuất ở Trung Quốc tin tưởng trong việc giới thiệu được các nhà sản xuất các mặt hàng nhựa tại Việt Nam để kết nối hợp tác đầu tư, sản xuất kinh doanh, nhằm chuyển đơn hàng sản xuất xuất khẩu đi Mỹ sang Việt Nam thực hiện, bà Ho chia sẻ.

Theo nhà cung cấp máy móc thiết bị bao bì nhựa đến từ Trung Quốc này, qua tìm hiểu một số nhà sản xuất Trung Quốc mong muốn cả việc đầu tư sản xuất ở Việt Nam hoặc có thể hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam để thực hiện việc sản xuất đơn hàng cho đối tác của họ ở thị trường Mỹ lâu nay. Tuy nhiên, bà Anna Ho tư vấn với doanh nghiệp Trung Quốc trong giai đoạn này họ nên hợp tác, chuyển đơn hàng sản xuất cho nhà sản xuất Việt Nam thực hiện.

Là nhà cung cấp máy móc thiết bị về nhóm mặt hàng này cho cả thị trường Mỹ và châu Âu, bà Ho cho biết, bà cũng đã nhận được danh sách 19 công ty Mỹ là nhà mua hàng sản phẩm bao bì nhựa ở thị trường Trung Quốc lâu nay, để đến văn phòng Silstar Machinery Việt Nam nhằm tìm nhà cung cấp trong nước.

Do đó, bà Ho dự báo sắp tới, khả năng sẽ có nhiều đơn hàng sản xuất mặt hàng này ở Trung Quốc chuyển sang Việt Nam thực hiện, đòi hỏi doanh nghiệp trong nước phải chuẩn bị để nắm bắt cơ hội này.

Riêng bản thân Silstar Machinery, do dự báo trước tình hình, nên trong lần tham gia triển lãm chuyên ngành tại Việt Nam, công ty bà đã thuê đến 18 gian hàng tại VietnamPlas 2018 để trưng bày nhiều máy móc thiết bị hiện đại, thu hút sự chú ý của nhà sản xuất trong ngành.

CEO của Silstar Machinery cho biết thị trường máy móc thiết bị trong ngành này ở Việt Nam của công ty bà ở giai đoạn 2010-2015 có mức tăng trưởng năm sau gấp đôi so với năm trước đó. Hơn 2 năm qua thị trường đã tăng chậm lại do tình hình đã dần bảo hòa. Tuy nhiên, với căng thẳng thương mại Mỹ-Trung đang tiếp tục leo thang sẽ có nhiều cơ hội cho sản xuất ở Việt Nam. Và đây sẽ là cơ hội lớn để công ty bà cũng như nhiều nhà cung cấp máy móc thiết bị cùng ngành khác trên thế giới có cơ hội kinh doanh nhiều hơn.

Hùng Lê

Ba giải pháp khẩn cấp cứu ngành nhựa trong cơn bĩ cực chưa từng có

So với lượng NPL xuất khẩu toàn thế giới 15,5 triệu tấn năm thì lượng NPL đã nhập khẩu vào Việt nam hàng năm là không đáng kể. Nếu ngành nhựa được kiểm soát tốt, VPA tự tin sẽ là một ngành tăng trưởng mạnh, đóng góp nhiều cho nền kinh tế cả nước thời gian tới.

Nhiều khó khăn cùng lúc kéo đến, khiến đại diện một doanh nghiệp nhựa thành viên của Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA) tâm sự mới đây có nhận được cuộc gọi từ cơ quan chính quyền, đồng cảm rằng ngành nhựa nói chung và doanh nghiệp nói riêng sao “đen”, mà “đen” liên tiếp.

Thật vậy, câu chuyện doanh nghiệp nhựa đồng loạt lên tiếng “kêu cứu” đã được báo giới đăng tải thời gian qua, khi hàng tồn lớn, bị cấm nhập khẩu phế liệu khiến nhiều công ty phải dừng hoạt động vì không có việc để làm. Theo đó, doanh nghiệp buộc phải tái cơ cấu nhân sự để đảm bảo nguồn vốn, song vẫn rất nặng lòng khi công nhân của mình điêu đứng, hoàn cảnh khó khăn nay lại mất việc.

Và trước tình hình này, VPA đã phối hợp với nhiều chuyên gia, doanh nghiệp và đưa ra những giải pháp, kiến nghị lên các cơ quan chức năng.

3 giải pháp khẩn cấp từ VPA

Thứ nhất, kiến nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường (BTNMT):

+ Đưa thông tin các công ty đã được cấp phép lên cổng thông tin điện tử Quốc gia để cơ quan Hải quan nắm bắt kịp thời, chỉ tiếp nhận khai báo làm thủ tục nhập khẩu cho các công ty đã có tên trên cổng thông tin điện từ Quốc gia.

+ Tập trung nhân lực, đẩy nhanh việc cấp phép nhập khẩu NPL mới cho các doanh nghiệp đã đầu tư đúng quy chuẩn.

+ Xem xét mở rộng quy chuẩn VNQC32: Đưa tất cả các loại nhựa có thể tái chế không lẫn tạp chất nguy hại vào danh mục NPL được phép nhập khẩu hoặc ít nhất phải có thêm các loại ống, tấm, khay, màng, bao bì, đồ chơi, pallet, két nhựa… nhằm mục đích tận dụng nguồn nguyên liệu và tránh tồn cảng trong tương lai khi lô hàng nhập có lẫn các loại nhựa này.

+ Thay đổi phương pháp quản lý: Sử dụng giải pháp “dễ dàng đầu vào, siết chặt đầu ra” như các nước Đài Loan, Hàn Quốc, Hồng Kông, Malaysia… đang làm, có nghĩa là tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhập khẩu hầu hết các chủng loại nhựa có thể tái chế nhưng quản lý chặt đầu ra là nước thải và khí thải của các nhà máy tái chế.

+ Hỗ trợ các doanh nghiệp thành lập các khu công nghiệp chuyên ngành tái chế NPL nhằm mục đích siết chặt và thuận tiện cho việc quản lý, đẩy mạnh việc phát triển ngành nhựa Việt Nam.

Thứ hai, kiến nghị Bộ Giao thông Vận tải:

+ Yêu cầu hãng tầu chỉ cho xếp hàng lên tầu đối với các doanh nghiệp có giấy phép nhập khẩu còn hiệu lực. Như vậy sẽ buộc doanh nghiệp nhập khẩu phải có trách nhiệm với lô hàng của mình đến cùng, nếu không họ sẽ bị tước giấy phép nhập khẩu; sẽ không còn những lô hàng tồn cảng do doanh nghiệp đứng tên nhận hàng rồi bỏ hàng như trước đây.

+ Yêu cầu các hãng tầu miễn phí phạt lưu container và lưu bãi cho các doanh nghiệp để nhanh chóng giải phóng hàng tồn. Nếu không miễn phí thì doanh nghiệp không thể rút hàng được.

+ Không yêu cầu các hãng tầu phải có trách nhiệm tái xuất hàng hoá không đạt tiêu chuẩn hoặc do doanh nghiệp không đến nhận hàng vì trách nhiệm xử lý tái xuất hàng hoá là của doanh nghiệp Việt Nam. Hiện nay các hãng tàu đã từ chối việc vận chuyển NPL đến Việt Nam, đây là điều rất đáng lo ngại.

Thứ Ba, kiến nghị Bộ Tài Chính – Tổng Cục Hải Quan (TCHQ):

+ Yêu cầu chi Cục Hải Quan các tỉnh thành phố thống nhất thực hiện kiểm soát thông quan mặt hàng NPL theo nghị định 38/2015/NĐ-CP của thủ tướng, thông tư 41/2015/TT-BTNMT của BTNMT, đây là văn bản quản lý chuyên ngành đã rất rõ ràng và chi tiết, huỷ bỏ văn bản số 4202 đã ban hành, không ban hành thêm các văn bản quản lý chồng chéo làm tình trạng hàng tồn cảng thêm trầm trọng.

+ Cho thông quan tất cả các container hàng nhựa đã qua sử dụng (bao, màng) đang tồn tại cảng biển như trước đây. Nếu có thay đổ chính sách không cho nhập khẩu mặt hàng này thì phải được ban hành theo văn bản quy phạm pháp luật, tối thiểu là thông tư do cơ quan ngang Bộ ban hành và có thời gian ân hạn cho doanh nghiệp chuẩn bị.

+ Tăng cường việc phòng ngừa rủi ro trong việc kiểm soát hàng hoá: Cho nâng luồng kiểm tra xác suất hoặc phối hợp trực ban trực tuyến của TCHQ để giám sát chặt chẽ mặt hàng NPL và hàng đã qua sử dụng. Thực hiện việc này tức là đã là đã kiểm soát mặt hàng ở mức cao nhất so với các mặt hàng khác.

Cơn bĩ cực chưa từng có

Nhắc lại khó khăn của ngành nhựa hiện nay, kể từ ngày 1/1/2018, Chính phủ Trung Quốc ban hành lệnh cấm nhập 24 loại phế liệu thì lượng nhựa phế liệu (NPL) nhập vào Việt Nam sáu tháng đầu năm 2018 tăng gấp đôi so với năm 2017. Thực chất năm 2017 tổng lượng NPL nhập khẩu vào Việt Nam khoảng 90.000 tấn, theo Tân Cảng Sài Gòn đến ngày 26/6/2018 lượng hàng tồn cảng là 4.480 container tương đương với khoảng 70.000 tấn.

Theo VPA, trước hết cần phải bình tĩnh nhìn nhận và phân tích lý do tại sao mặt hàng NPL tồn cảng, phải làm gì để giúp ngành nhựa phát triển mà vẫn quản lý được rủi ro, đó là thách thức đối với các cơ quan quản lý.

Có đến 7 lý do lớn cho vấn nạn này, cụ thể:

(1) Hàng tồn do thay đổi quản lý cấp phép nhập khẩu của BTNMT.

Ngày 9/9/2015 Bộ TNMT đã ban hành Thông tư 41/2015/TT-BTNMT thống nhất việc cấp phép nhập khẩu phế liệu trực thuộc Bộ TNMT, đây là việc làm đúng để có thể quản lý chặt các doanh nghiệp nhập khẩu NPL. Những năm trước đó việc cấp phép này thuộc về Sở TNMT các tỉnh, khoảng 25 giấy phép được cấp trong cả nước, đa số hết hạn hiệu lực vào cuối năm 2017. Trước năm 2017 các doanh nghiệp không mặn mà gì với việc nhập khẩu NPL do không cạnh tranh được với các doanh nghiệp của Trung Quốc, vì vậy năm 2016-2017 rất ít doanh nghiệp xin cấp giấy phép theo quy định mới của BTNMT.

Đầu năm 2018, đúng lúc Trung quốc cấm nhập khẩu NPL, doanh nghiệp tái chế NPL vội vàng xây dựng nhà máy đáp ứng điều kiện cấp phép nhập khẩu của BTNMT. Tuy nhiên, để đầu tư bài bản theo đúng yêu cầu của BTNMT thì cần thời gian ít nhất là 12-24 tháng. Hàng nhập đang trên biển, Sở TNMT không có chức năng cấp phép nữa, hạ tầng kỹ thuật của nhà máy chưa hoàn thiện, đương nhiên sẽ dẫn đến tình trạng hàng phải tồn cảng.

(2) Hàng tồn do quy chuẩn QCVN 32 – BTNMT khó thực hiện trong thực tiễn.

QCVN32 là quy định tiêu chuẩn NPL nhập khẩu do BTNMT ban hành để kiểm soát chất lượng NPL nhập khẩu. Mặt NPL là hàng phi tiêu chuẩn, doanh nghiệp có cố gắng đến đâu cũng khó đạt được quy chuẩn của BTNMT. Chỉ cần hai tiêu chí của QCVN32 là: NPL phải sạch và tạp chất không quá 2% đã làm khổ doanh nghiệp, sạch là một khái niệm ước lệ khó đo đếm, con số 2% là con số đánh đố! (thực chất khó có thể tách tạp chất trong lô hàng ra để cân đo 1% hay 2% hoặc 3%).

Cũng theo Quy chuẩn QCVN32, chỉ có 4 loại hình NPL được phép nhập khẩu, còn rất nhiều loại khác hiệu quả tái chế cao nhưng không được phép lẫn. Đã là phế liệu thì bên bán không thể lúc nào cũng đóng hàng đúng 100% theo quy chuẩn của Việt nam, nếu bên bán đóng hàng vào container lẫn một ít loại khác, cả lô hàng sẽ bị định nghĩa là chất thải không được phép nhập khẩu. Doanh nghiệp ngậm đắng nuốt cay không dám đến nhận hàng. (số lượng hàng tồn cảng này không nhỏ).

(3) Hàng tồn do các văn bản quản lý mới của TCHQ.

Trước sức ép của dư luận, TCHQ đã ban hành các văn bản quản lý nhằm siết chặt việc kiểm soát hàng phế liệu như văn bản số 3738/TCHQ-GSQL ngày 26/6/2018; văn bản số 4202/TCHQ-PC ngày 17/7/2018. Các văn bản này được ban hành vội vàng, trái với khoản 1 và khoản 2 điều 14 Luật ban hành các văn bản quy phạm pháp luật số 80/2015/QH13 của Quốc Hội, chồng chéo với thông tư 41/TT-BTNMT, không phù hợp với nghị định 74/2018/NĐ-CP và có nhiều điểm bất cập mà chính Hải quan các cảng cũng không thực hiện được càng làm hàng hoá ách tắc thêm trầm trọng.

(4) Hàng tồn do các cảng không làm được thủ tục thông quan mặt hàng nhựa đã qua sử dụng như trước đây.

Hàng đã qua sử dụng vẫn còn công năng sử dụng như bao tải cẩu bằng nhựa (bao một tấn), màng nhựa là mặt hàng sạch đẹp, đã được phân loại đồng nhất, sử dụng trong việc đóng gói và làm màng phủ trong nông nghiệp. Mặt hàng không nằm trong danh mục cấm nhập khẩu của Bộ Công Thương, doanh nghiệp được quyền kinh doanh. Thực tế doanh nghiệp vẫn nhập khẩu và kinh doanh mặt hàng này trong những năm qua.

Theo văn bản số 4202 của TCHQ, Hải quan các cảng không thể tiếp tục thông quan được các mặt hàng này. Dừng thông quan đột ngột mà không thông báo trước, không gia hạn để doanh nghiệp có thời gian phản ứng, đổ thêm gánh nặng lên doanh nghiệp.

(5) Hàng tồn do phí lưu container quá cao.

Hàng tồn lâu thì doanh nghiệp không có khả năng rút được hàng nữa vì phí lưu container phải trả cho hãng tàu đã vượt quá tiền hàng, doanh nghiệp không dám đến nhận hàng (được gọi là bỏ hàng). Những năm qua doanh nghiệp đã phải mất rất nhiều tiền trả phí cho hãng tầu nước ngoài.

(6) Hàng tồn cảng do tồn các mặt hàng khác tích tụ từ nhiều năm trước.

Số hàng tồn cảng không chỉ có NPL mà còn có giấy, các mặt hàng vô chủ khác và hàng tạm nhập nhưng không tái xuất được.

(7) Hàng tồn cảng do quản lý cảng biển.

Hàng tồn và gây ách tắc nhất hiện nay là tại cảng Cát Lái, Tp.HCM nhưng các cảng khác lại rất rảnh như cảng Cái Mép – Thị vải và các cảng khác. Đây là vấn đề của các nhà quản lý và công ty kinh doanh cảng biển.

So với thế giới, lượng nhập NPL Việt Nam chưa đáng kể

Theo số liệu của Viện Công Nghệ Tái Chế Hoa Kỳ, năm 2016 tổng lượng nhựa phế liệu (NPL) nhập khẩu của các nước trên thế giới vào khoảng 15,5 triệu tấn tương đương với 5,4 tỷ USD, riêng Trung quốc nhập khẩu 7,3 triệu tấn, Hồng Kong 2,9 triệu tấn. Tổng lượng phế liệu các loại (sắt thép, giấy và NPL) của Trung Quốc nhập khẩu năm 2016 là 45 triệu tấn tương đương với 18 tỷ USD.

Các nước EU, Mỹ, Nhật là những nước xuất khẩu lớn nhất. NPL được xuất khẩu đến trên 90 nước, các nước nhập khẩu chủ yếu nằm ở Châu Á như Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc, Ấn Độ, Malaysia, Thái Lan, Indonesia ….Đặc biệt các nước phát triển đang xuất khẩu NPL cũng nhập khẩu một lượng NPL không nhỏ lên đến 3,3 triệu tấn/năm (Hoa Kỳ, Đức, Anh, Pháp, Bỉ, Ý, Thuỵ Điển, Hà Lan…).

Như vậy, so với lượng NPL xuất khẩu toàn thế giới 15,5 triệu tấn năm thì lượng NPL đã nhập khẩu vào Việt Nam hàng năm là không đáng kể. Nếu ngành nhựa được kiểm soát tốt, VPA tự tin sẽ là một ngành tăng trưởng mạnh, đóng góp nhiều cho nền kinh tế cả nước thời gian tới.

Ngành nhựa Việt Nam có thể ảnh hưởng ra sao trước lệnh cấm nhập phế liệu nhựa của Trung Quốc?

 (Theo CafeF)

Kể từ ngày 1/1/2018, Chính phủ Trung Quốc ban hành lệnh cấm nhập khẩu phế liệu nhựa, đồng nghĩa với việc quốc gia này phải nhập khẩu hạt nhựa nguyên liệu để sản xuất trong nước. Đây là cơ hội cho ngành nhựa Việt Nam.

Trung Quốc hiện là nước sản xuất nhựa lớn nhất thế giới (xét cả nguyên liệu nhựa và sản phẩm nhựa). Tốc độ luôn giữ được nhịp tăng, bởi nhu cầu tăng cao của những nhà sản xuất ô tô, điện thoại di động và bao bì thực phẩm, những ngành có mức tiêu thụ sản phẩm nhựa cao. Trong khi đó, Trung Quốc tuy là quốc gia sản xuất nguyên liệu lớn nhất thế giới, nhưng chỉ đứng thứ 9 về xuất khẩu loại nguyên liệu này do nhu cầu tiêu thụ trong nước của Trung Quốc là rất lớn.

Mặc dù đứng đầu về sản lượng sản xuất nhưng Trung Quốc cũng đứng đầu về nhập khẩu nguyên liệu nhựa trong những năm qua. Số liệu thống kê từ Untrade cho thấy, mỗi năm Trung Quốc nhập khẩu khoảng 40 triệu tấn nguyên liệu nhựa, chiếm 20% tổng lượng nhập khẩu nguyên liệu toàn cầu, chủ yếu từ những thị trường Hàn Quốc, Đài Loan, Saudi Arabia, Nhật Bản (những khu vực sản xuất nguyên liệu nhựa lớn toàn cầu và Đông Bắc Á). Nguyên liệu nhựa sản xuất trong nước chủ yếu của Trung Quốc là PVC (phục vụ cho công nghiệp xây dựng) trong khi PE, PP, PS chủ yếu phải nhập khẩu.

Đối với Việt Nam, Trung Quốc là thị trường xuất khẩu chủ lực nhóm hàng nguyên liệu nhựa. Theo số liệu thống kê mới đây của TCHQ, năm 2017 Việt Nam đã xuất khẩu 476,5 nghìn tấn nguyên liệu nhựa, trong đó Trung Quốc chiếm 50% tỷ trọng đạt 236,9 nghìn tấn và 179,5 triệu USD, tăng 99,87% về lượng và 76,09% về kim ngạch so với năm 2016. Giá xuất bình quân đạt 757,62 USD/tấn.

Ngành nhựa Việt Nam sẽ ra sao trước lệnh cấm nhập phế liệu nhựa của Trung Quốc? - Ảnh 1.

Việc không nhập khẩu phế liệu nhựa của Trung Quốc sẽ khiến nước này phải nhập khẩu hạt nhựa nguyên liệu để sản xuất nhựa.

Theo thống kê, mỗi năm Trung Quốc nhập khoảng 7,3 triệu tấn hạt nhựa, trị giá hàng tỷ USD. Điều này mở ra một thị trường rất lớn để xuất khẩu vào Trung Quốc. Đây cũng là thời điểm để các doanh nghiệp nhựa tái sinh Việt Nam mở rộng năng lực sản xuất. Ngoài ra, khi các nước Châu Âu bị chặn nguồn bán phế liệu vào Trung Quốc thì các doanh nghiệp Việt Nam lại càng có thêm cơ hội để hợp tác với những doanh nghiệp từ châu Âu.

Mặc dù đây là một cơ hội lớn, nhưng thách thức cũng không nhỏ bởi nguy cơ dẫn đến cuộc cạnh tranh khốc liệt về giá hạt nhựa giữa các doanh nghiệp trong nước là điều rất dễ xảy ra.

Hiện nay, nhiều doanh nghiệp trong nước cũng đang tập trung thu gom và đầu tư hết nguồn vốn để tăng năng lực sản xuất, điều này cũng có thể dẫn đến phá sản nếu Trung Quốc ngừng mua hàng. Một nguy cơ nữa cũng phải kể đến đó là việc ô nhiễm môi trường nếu mất kiểm soát.

Để tránh quá phụ thuộc vào các thị trường truyền thống, các doanh nghiệp Việt Nam nên tìm đến các thị trường ngách tiềm năng. Trong năm 2017, ngoài những thị trường xuất khẩu chủ lực, Việt Nam tăng xuất khẩu sang các thị trường như: Đài Loan (Trung Quốc), Nhật Bản với lượng xuất tăng mạnh gấp hơn 2,2 lần mỗi thị trường so với 2016, mặc dù chỉ đạt tương ứng 8,9 nghìn tấn và 12 nghìn tấn. Ngoài ra, năm 2017 có thêm thị trường mới đó là Italy và Bồ Đào Nha với lượng xuất đạt 1,3 nghìn tấn và 36 tấn.

Mặc dù xuất khẩu nguyên liệu nhựa, nhưng Việt Nam cũng chưa tự chủ được nguồn nguyên liệu. Năng lực sản xuất ngành nhựa lên tới 10 tỷ USD, nhưng chỉ xuất khẩu được 3 tỷ USD mỗi năm và lại nhập khẩu đến 6-7 tỷ USD, đó là chênh lệch rất lớn. Phế liệu chính là sự sáng tạo cần thiết trong việc tìm kiếm nguyên liệu nhằm giảm thiểu việc nhập khẩu nhựa. Tuy nhiên, cần phải lựa chọn kỹ lưỡng nguồn phế liệu, phải chọn những loại phế liệu sạch và nhanh chóng hoàn thiện các mô hình tái chế phế liệu hiện đại để chủ động trong công tác sản xuất, kinh doanh.

Để làm được điều này, một doanh nghiệp nhựa lớn tại Việt Nam đã kêu gọi các doanh nghiệp nhựa khác tham gia vào sàn giao dịch nhựa, chợ buôn bán nhựa và khu công nghiệp sản xuất nhựa công nghệ cao do doanh nghiệp này tổ chức. Sàn giao dịch sẽ đi vào hoạt động từ tháng 2/2018 sau khi doanh nghiệp này đàm phán với Hiệp hội nhựa Trung Quốc ngày 19/1. Riêng khu công nghiệp sản xuất nhựa công nghệ cao thì đang được xây dựng với quy mô 181 ha ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Trước đề xuất này, Chủ tịch Hiệp hội Nhựa Việt Nam rất ủng hộ việc phát triển một cách bền vững và chuyên nghiệp.

Cung cầu nguyên liệu nhựa trên toàn cầu từ 2016-2020 vẫn được ICIS dự báo tích cực. Tỷ lệ tăng tiêu thụ polymer hàng năm đạt 3,5-4,0% tới năm 2030.

Nguyên liệu PVC được dự báo sẽ tăng ổn định trong ngắn hạn, được thúc đẩy từ nhu cầu xây dựng tại những khu vực đang phát triển và sự phục hồi của những thị trường bão hòa, đặc biệt là Mỹ. Sự tăng ổn định của thị trường nhà ở tại những quốc gia đang phát triển cũng giúp duy trì tỷ lệ tăng 3% đối với EPS (nhu cầu sử dụng tấm lợp trần và tấm cách nhiệt).

Nhu cầu tiêu thụ tại châu Á được dự báo vẫn duy trì ở mức tăng mạnh do động lực tăng từ Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN.

Bao bì nhựa độc hại khôn lường và những ký hiệu cần biết để tránh

(Theo BaoMoi)

Bao bì nhựa được các nhà sản xuất sử dụng phổ biến tuy nhiên theo các chuyên gia người tiêu dùng nên thận trọng khi dùng những sản phẩm này.

Hiện nay, theo báo Sức Khỏe & Đời sống, nhiều nước, đặc biệt các nước tiên tiến ở châu Âu, Mỹ…, người ta cảnh giác và dùng rất thận trọng các loại bao bì nhựa dẻo như chai can nhựa, túi bao gói nilon, đầu núm vú, bình sữa, đồ chơi trẻ em bằng chất nhựa dẻo. Vì dùng không đúng cách những thứ này có thể gây hại cho sức khỏe.

Các loại bao bì nhựa dẻo chủ yếu là các hóa chất cao phân tử PVC (polyvinyl clorur), PE (polyethylen)… Để đúc khuôn tạo dáng cho các bao bì này người ta phải thêm chất hóa dẻo (plasticizer) là các hóa chất có cấu trúc tương tự tạo thành nhóm gọi là các “dẫn chất phtalat” như monobutyl phtalat (MBP), dibutyl phtalat (DBP), benzylbutyl phtalat (BZBP), monomethyl phtalat (MMP)… Các dẫn chất phtalat này tuyệt đối không được dùng trong thực phẩm và dược phẩm.

Bao bi nhua doc hai khon luong va nhung ky hieu can biet de tranh - Anh 1

Bao bì nhựa dẻo vô cùng nguy hiểm cho người sử dụng. Ảnh minh họa

Các dẫn chất phtalat thường được dùng làm chất hóa dẻo cho các bao bì nhựa dẻo. Nếu bao bì đó đựng thực phẩm và trong quá trình sử dụng chế biến đun nóng ở nhiệt cao, các dẫn chất phtalat được giải phóng ra nhiễm vào thực phẩm và theo đường tiêu hóa vào trong cơ thể con người sẽ gây hại. Trẻ em dùng bình sữa, bát nhựa, đồ chơi bằng nhựa dẻo có chứa hàm lượng cao các phtalat cũng có nguy cơ rất cao bị nhiễm chất này.

Tác hại của các dẫn chất phtalat vào trong cơ thể gây hại nhiều mặt nhưng hại lớn nhất là làm xáo trộn nội tiết hay phá vỡ nội tiết (endocrine disruptors). Đặc biệt, bé gái bị nhiễm phtalat sẽ dậy thì sớm trước tuổi. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này và cho thấy, trong nước tiểu bé gái dậy thì sớm chứa lượng monomethyl phtalat (MMP) cao hơn nhiều so với bé gái bình thường. Cũng vì tác hại của dẫn chất phtalat nên hiện nay Nghị viện châu Âu không cho phép dùng DBP và DEHP có trong đồ chơi trẻ em và cả trong mỹ phẩm.

Những ký hiệu dưới đáy chai nhựa cần biết để tránh nhiễm độc

Theo báo Kiến Thức, những sản phẩm gia dụng làm bằng nhựa như chai nước, hộp lọ mà bạn mua không phải cái nào cũng giống nhau, và sự khác biệt quan trọng chính là mức độ độc hại của loại nhựa mà cấu tạo nên chúng. Mỗi loại nhựa đều được biểu thị bằng chữ cái hoặc con số, thường nằm giữa hình tam giác với các mũi tên và có thể tìm thấy trên vỏ hoặc dưới đáy các sản phẩm nhựa.

Các kí hiệu này ẩn chứa thông tin quan trọng vì mỗi loại nhựa lại chứa những chất hóa học có thể gây ra nhiều tác hại cho sức khỏe của chúng ta theo các cấp độ khác nhau.

Số 1 – PET hay còn gọi là PETE: Nhựa PET (viết tắt của polyethylene terephthalate) là một trong số những loại nhựa được sử dụng phổ biến cho các sản phẩm gia dụng, ví dụ như chai nước khoáng, nước ngọt, bia và bao bì đóng gói. Đây là kí hiệu chỉ loại nhựa chỉ sử dụng duy nhất một lần, nên nếu dùng đi dùng lại có thể gia tăng nguy cơ làm hòa tan các kim loại nặng và hóa chất cấu tạo nên chúng. Các chất này làm ảnh hưởng đến sự cân bằng hóc-môn trong cơ thể. Nhựa PET rất khó để làm sạch, mức độ tái chế của chúng cũng rất thấp (chỉ khoảng 20%) vì vậy tốt nhất là dùng xong hãy vứt chúng đi ngay.

Bao bi nhua doc hai khon luong va nhung ky hieu can biet de tranh - Anh 2

Những ký hiệu trên mỗi chai nhựa cho người dùng nhận biết. Ảnh: Kiến Thức

Số 2 – HDP hay HDPE: Mệnh danh là nhựa an toàn nhất trong tất cả, nhựa số 2 thường được khuyên dùng bởi các chuyên gia. HDP (high density polyethylene, tức là nhựa nhiệt dẻo mật độ cao) là loại nhựa dùng để chế tạo các bình nhựa cứng như bình đựng sữa, bình đựng chất tẩy rửa, dầu ăn, đồ chơi và một số túi nhựa. Loại nhựa này không thải ra chất độc hại nào vì thế, các chuyên gia thường khuyên lựa chọn các loại chai HDP khi mua hàng bởi chúng được coi là an toàn nhất trong tất cả.

Số 3 – PVC hay 3V: Nhựa số 3 là loại nhựa rất phổ biến nhưng lại chứa nhiều chất độc hại. PVC là loại nhựa mềm và dẻo được sử dụng để sản xuất bao bì thực phẩm trong suốt, chai đựng dầu ăn, đồ chơi và rất nhiều sản phẩm khác. PVC khá phổ biến nhưng chúng có chứa 2 loại hóa chất độc hại làm ảnh hưởng đến hóc-môn cơ thể. Chất này có thể giải phóng chất độc khi ở nhiệt độ cao, nên chỉ được phép đựng thực phẩm hoặc đồ uống dưới 81 độ C.

Số 4 – LDPE: Nhựa số 4 có nhiều công dụng nhưng không nên dùng ở nhiệt độ cao. LDPE là chất nhựa nhiệt dẻo mật độ thấp khá phổ biến trong các hộp mì, hộp đồ đông lạnh, túi đựng hàng và vỏ bánh. Sản phẩm chứa chất này sẽ không thể làm nóng trong lò vi sóng, tránh nhiệt độ cao vì sẽ giải phóng hóa chất.

Số 5 – PP: Nhựa số 5 chịu nhiệt rất tốt và an toàn khi đặt trong lò vi sóng. PP (polypropylene) là loại nhựa màu trắng hoặc gần như trong suốt, dùng để làm cốc đựng sữa chua, si-rô, hoặc cốc cà phê. Chất này bền và nhẹ, chịu được ở nhiệt độ 167 độ C nên có thể tái sử dụng, quay trong lò vi sóng. PP cũng chống được ẩm và chất nhờn rất tốt.

Số 6 – PS: Nhựa số 6 hay dùng cho hộp nhựa xốp hoặc dĩa thìa dùng một lần. PS, hay polystyrene, là loại nhựa rẻ và nhẹ có thể tìm thấy trên vỏ một số hộp đựng đồ ăn nhanh, cốc uống nước, hộp đựng trứng và dao đĩa thìa picnic. Dù chúng có khả năng chịu nhiệt và lạnh đáng kể, nhưng ở nhiệt độ cao như lò vi sóng chúng có thể giải phóng chất độc hại. Ngoài ra, cũng không được dùng đựng đồ có chất acid mạnh, chất kiềm mạnh. Chính vì thế, loại nhựa này không được phép dùng để đựng đồ ăn thức uống lâu dài.

Số 7 – PC hoặc không có kí hiệu: Độc nhất trong số tất cả chính là nhóm này. Loại nhựa này có thể dùng để đựng thùng hoặc can nước dung tích 3 – 5 lít và một số sản phẩm đựng thức ăn. Là loại nhựa nguy hiểm nhất, dễ dàng sinh ra chất gây ung thư, vô sinh BPA.

An Dương (T/h)

BAO BÌ NHỰA SỬ DỤNG CHO CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP NHẸ

Bao bì nhựa sử dụng trong các ngành công nghiệp nhẹ là một giải pháp tối ưu cho các nhà kinh doanh trong việc bảo quản sản phẩm khỏi những tác động của nhiệt độ, ẩm độ, môi trường…. Với những ưu thế vượt trội của mình, bao bì nhựa đã và đang trở thành một thành phần không thể thiếu trong các ngành công nghiệp nhẹ

 

Ngành công nghiệp thiết kế, sản xuất, in ấn bao bì nhựa đang phát triển mạnh mẽ tại Việt nam. Cùng với sự phát triển của các ngành công nghiệp tại các tỉnh thành miền đông Nam bộ như Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu, Long An, Bình Phước…, Các công ty sản xuất bao bì nhựa ở miền đông Nam bộ cũng gia tăng đáng kể về số lượng và quy mô. Bao bì nhựa được thúc đẩy bởi nhu cầu tiêu thụ ngày càng cao của hàng hóa tiêu dùng, thực phẩm, quần áo, giày dép và các sản phẩm khác của các ngành công nghiệp nhẹ. Công ty TNHH Kỹ Thuật Bao Bì Toàn Cầu là một trong số những công ty có khả năng thiết kế, in ấn, sản xuất bao bì nhựa tại Bình Dương với chất lượng sản phẩm luôn làm hài lòng khách hàng. Công ty TNHH Kỹ Thuật Bao Bì Toàn Cầu cung cấp bao bì nhựa các loại cho các tỉnh thành đông Nam bộ và cả nước với các sản phẩm bao bì nhựa PE, PP, OPP… theo yêu cầu của khách hàng. Với sự cạnh tranh gay gắt hiện nay trên thương trường, nhu cầu tìm nhà cung cấp in ấn bao bì giá rẻ cũng là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp trong ngành công nhiệp nhẹ. Chúng tôi thấu hiểu điều đó và luôn tìm cách cải tiến để đạt được kỳ vọng của khách hàng khi cung cấp các sản phẩm bao bì nhựa, túi nhựa … với giá cả hết sức cạnh tranh trong khi vẫn bảo đảm chất lượng của sản phẩm bao bì nhựa cho khách hàng.

Các loại bao bì nhựa như bao bì nhựa PE,  bao bì nhựa LDPE, bao bì nhựa OPP, bao bì nhựa CPP …. Với đặc trưng mềm dẽo, nhẹ, chống thấm luôn là lựa chọn tốt nhất cho việc bảo quản sản phẩm

Ngoài yếu tố bảo quản, việc truyền thông hay quảng cáo trên bao bì đã không còn xa lạ trên thị trường ngày nay. Bao bì nhựa với khả năng in ấn đa dạng luôn là kênh truyền thông đáng giá đối với thương hiệu và sản phẩm của khách hàng. Công nghệ in ống đồng trên bao bì nhựa đem đến cho các nhà sản xuất các bao bì nhựa với hình ảnh, thông tin cần quảng bá của doanh nghiệp sản phẩm một cách hoàn hảo nhất. Công ty TNHH Kỹ Thuật Bao Bì Toàn Cầu sở hữu máy in ống đồng 8 màu sẽ cung cấp cho khách hàng những sản phẩm bao bì nhựa được in ấn với chất lượng như ý.

In bao bì giá rẻ cũng là nỗ lực của công ty để giúp khách hàng giảm giá thành nhằm nâng cao tính cạnh tranh trên thương trường. Việc hỗ trợ khách hàng trong việc thiết kế bao bì nhựa để có những mẫu mã bao bì nhựa in ấn ấn tượng cũng là mục tiêu theo đuổi của công ty.

Các sản phẩm bao bì nhựa PE, bao bì nhựa CPP, bao bì nhựa OPP, bao bì nhựa LDPE là lựa chọn tối ưu khi các công ty trong các ngành công nghiệp nhẹ tìm kiếm bao bì cho ngành giấy (Các loại bao bì cho khăn giấy, bao bì cho giấy vệ sinh…), bao bì nhựa cho ngành may mặc, bao bì nhựa cho giày dép, bao bì nhựa cho thực phẩm… và bao bì nhựa , bao bì PE cho các sản phẩm công nghiệp nhẹ khác.

 

 

 

NGÀNH BAO BÌ VẪN BỊ “VÔ THỪA NHẬN”

Theo Vinpas.vn

Ngành bao bì là một trong những ngành sẽ phát triển mạnh ở Việt Nam trong thời gian tới, theo nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng của dân chúng và theo các hiệp định thương mại tự do Việt Nam ký kết gần đây cho phép doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam tiếp cận được rất nhiều thị trường. Thế nhưng, chính sách cho ngành này từ phía Nhà nước lại ít được chú ý.

Theo thống kê từ hãng nghiên cứu thị trường Eurmonitor, Việt Nam xếp hạng 32 thế giới về nhu cầu bao bì thực phẩm trong năm 2015 với 3,915 triệu tấn; nhu cầu này vào năm 2020 sẽ là 5,396 triệu tấn, tăng 38%, trong khi nhu cầu của toàn thế giới trong giai đoạn 2015-2020 chỉ tăng 13%.

Việt Nam cũng đứng hạng 30 thế giới về nhu cầu dùng bao bì cho ngành dược phẩm. Năm 2015 đạt 4,116 tỉ đô la Mỹ, sẽ tăng lên mức 6,258 tỉ đô la Mỹ vào năm 2020, tức là tăng 52%, cao hơn đáng kể so với mức tăng 25% trên thế giới trong giai đoạn 2015-2020. Số doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong ngành sản xuất bao bì ở Việt Nam cũng đã có trên 1.000.

Thế nhưng, trao đổi với TBKTSG Online, ông Nguyễn Ngọc Sang, Chủ tịch Hiệp hội bao bì Việt Nam (VINPAS), cho biết ngành bao bì ở Việt Nam vẫn chưa được cấp mã ngành kinh doanh riêng, vẫn là những ngành con nhỏ lẻ nằm trong các ngành khác.

Trong danh sách mã ngành nghề được Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành, có “sản xuất bao bì bằng gỗ” với mã ngành 1623, tức là cấp 4, thuộc ngành sản xuất sản phẩm từ gỗ tre nứa; còn ngành “sản xuất bao bì bằng giấy, bìa” thậm chí chỉ đứng ở cấp 5, với mã 17021; “sản xuất bao bì từ plastic” đứng ở cấp 5, với mã 22201.

“Bao bì thì không chỉ có làm từ gỗ, giấy, plastic mà còn từ kim loại, cao su, thủy tinh… bao bì kim loại hoàn toàn không có mã ngành kinh doanh, vậy quản lý thế nào”, ông Sang đặt vấn đề. “Ở Mỹ và các nước phát triển, ngành bao bì luôn nằm trong tốp 10 những ngành đem lại GDP lớn nhất. Ngành bao bì Việt Nam có doanh số không nhỏ và tiềm lực phát triển rất mạnh, vậy mà không được xếp mã ngành kinh doanh ít nhất cũng phải là cấp 2”.

Theo ông Sang, việc bị “vô thừa nhận” này khiến nhiều doanh nghiệp bao bì gặp khó khăn. Thứ nhất là không có được các chính sách ưu đãi cần thiết từ nhà nước. “Ví dụ, doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản được ưu đãi thuế, nhưng doanh nghiệp sản xuất, cung cấp bao bì cho doanh nghiệp thủy sản lại không được ưu đãi gì hết, mặc dù bao bì là thứ giúp bảo quản sản phẩm thủy sản đó qua rất nhiều công đoạn xuất khẩu”, ông Sang cho biết.

Thứ hai, không được cấp mã ngành kinh doanh nên nhà nước không hề có công tác thống kê với ngành bao bì. Những số liệu kể trên là từ các công ty nghiên cứu thị trường nước ngoài. Không có thống kê chính thức thì giới thiệu hay kêu vốn đầu tư vào ngành gặp khó khăn, việc quản lý quy hoạch ngành cũng khó khăn.

Thứ ba, không có mã ngành đồng thời cũng không có tiêu chuẩn, quy chuẩn về ngành, sinh ra việc nhiều doanh nghiệp làm ăn tùy tiện, khó kiểm tra vì làm gì có tiêu chuẩn để đối chiếu. Hiện tại, mới chỉ có quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn vệ sinh đối với các loại bao bì thực phẩm và bao bì dược phẩm do Bộ Y tế ban hành. Nhưng còn biết bao nhiêu loại bao bì cũng cần phải an toàn, chứ đâu riêng mỗi thực phẩm và dược phẩm cần?

Đinh Hiệp-thesaigontimes

Xuất khẩu sản phẩm nhựa 11 tháng đầu năm 2016 và dự báo năm 2017

Theo Vinanet

Vinanet – Xuất khẩu sản phẩm nhựa sang các thị trường trên thế giới 11 tháng đầu năm 2016 đạt mức tăng 6% so với cùng kỳ năm 2015, thu về gần 2 tỷ USD.

Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm nhựa của Việt Nam sang các thị trường trên thế giới 11 tháng đầu năm 2016 đạt mức tăng 6% so với cùng kỳ năm 2015, thu về gần 2 tỷ USD.

Cả năm 2016, ngành nhựa xuất khẩu ước đạt 2,54 tỷ USD, tăng nhẹ so với con số hơn 2,4 tỷ USD vào năm 2015; trong đó, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm – bán thành phẩm nhựa đạt khoảng hơn 2,1 tỷ USD, tương ứng với mức tăng trưởng là 5,9% so với năm 2015; nguyên liệu nhựa xuất khẩu trên 345,8 triệu USD, giảm hơn 13,6% về lượng và 14,4% về giá trị. Nguyên nhân giảm chủ yếu là do các sản phẩm nhựa Việt phải chịu áp lực cạnh tranh khá cao với các sản phẩm nhựa ngay tại các thị trường chính là Nhật Bản, Hoa Kỳ và hàng nhập khẩu từ các quốc gia khác khi đồng Việt Nam lên giá tương đối so với các đồng tiền khác.

Trong 11 tháng đầu năm 2016 có 5 thị trường xuất khẩu đạt kim ngạch trên 100 triệu USD trở lên, bao gồm: Nhật Bản 468,2 triệu USD, chiếm 23,4% tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm nhựa của cả nước, tăng 10,3% so với cùng kỳ năm 2015; Hoa Kỳ 300,7 triệu USD (chiếm 15%, tăng 8,9%); Hà Lan 116 triệu USD (chiếm 5,8%, tăng 2,4%); Hàn Quốc 111,4 triệu USD (chiếm 5,6%, tăng 48%); Đức 102,2 triệu USD (chiếm 5%, giảm 3,7%) .

Các thị trường xuất khẩu đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ gồm có: Hàn Quốc (+48%), Indonesia (+31%), Ấn Độ (+36%) và Singapore (+24,6%). Tuy nhiên, xuất khẩu sản phẩm nhựa sang Thụy Sĩ, Thổ nhĩ Kỳ và Lào lại sụt giảm mạnh, với mức giảm lần lượt 38,65%, 32% và 26,7% so với cùng kỳ.

Theo dự báo của Hiệp hội nhựa Việt Nam (VPA), kim ngạch xuất khẩu nhựa sẽ tiếp tục tăng trong năm 2017, với mức tăng trưởng duy trì khoảng 3,5 – 6%. Nhật Bản và Hoa Kỳ là thị trường nhập khẩu nhựa chính của Việt Nam trong năm 2017. Tuy nhiên, đây là thị trường khó tính, với nhiều quy định khắt khe về chất lượng hàng hóa; trong khi đó một số doanh nghiệp Việt lại chưa có khả năng đáp ứng được các tiêu chuẩn.

Đối với thị trường Hoa Kỳ, hiện sản phẩm túi nhựa vẫn tiếp tục bị áp thuế chống bán phá giá. Do đó, kim ngạch xuất khẩu túi nhựa sang Hoa Kỳ chiếm tỷ trọng khiêm tốn. Tuy vậy, thị trường này còn nhập khẩu nhiều các sản phẩm như vải bạt, nhựa gia dụng và các sản phẩm nhựa dùng trong vận chuyển và đóng gói. Bên cạnh đó, các sản phẩm tấm, phiến, màng nhựa đang là chủng loại có nhiều tiềm năng nhất ở thị trường này.

Riêng EU, các doanh nghiệp nhựa Việt Nam có thể đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường này, bởi nhu cầu nhập khẩu nhựa vẫn ở mức cao, đặc biệt là sản phẩm ống nhựa. Ngoài ra, tại EU, các sản phẩm nhựa Việt Nam không bị áp thuế chống bán phá giá như một số nước Châu Á khác. Đây sẽ là cơ hội để doanh nghiệp gia tăng xuất khẩu tại thị trường này.

Tuy vậy, những vấn đề khó khăn trong nội tại ngành còn khá nhiều, sẽ là những trở ngại để doanh nghiệp xuất khẩu phát triển trong năm 2017. Đó là việc không chủ động được nguồn nguyên liệu đầu vào (70-80% các loại nguyên liệu nhựa phục vụ cho ngành phải nhập khẩu) làm giảm sức cạnh tranh của các doanh nghiệp.

Điều này cũng khiến doanh nghiệp xuất khẩu khó tận dụng được ưu đãi thuế do quy định liên quan đến xuất xứ hàng hóa. Ngoài ra, biến động giá hạt nhựa trên thế giới, biến động tỷ giá… cũng là những yếu tố ảnh hưởng mạnh đến các doanh nghiệp nhựa nhập khẩu nguyên liệu đầu vào.

Được đầu tư ‘khủng’ về máy móc, ngành bao bì sẽ sớm tăng năng suất

Một trong những thách thức mà ngành công nghiệp bao bì trong nước phải đối mặt là công nghệ chưa cao khiến cho các doanh nghiệp (DN) chưa thực sự tham gia vào chuỗi giá trị và tạo ra lợi nhuận bền vững.

Giải pháp hàng đầu được các chuyên gia đưa ra chính là sự thay đổi và áp dụng công nghệ mới trong sản xuất, áp dụng các vật liệu mới, đầu tư dây chuyền sản xuất tiên tiến nhằm tăng tính hiệu quả và đảm bảo chất lượng sản phẩm.

Ông Bjoern Koslowski – Phó trưởng đại diện của Phòng Công nghiệp và Thương mại Đức tại Việt Nam cho biết, máy móc của CHLB Đức luôn được coi là sự lựa chọn hàng đầu và là đầu tư bền vững bởi chất lượng và công nghệ hiện đại tuy giá thành có cao hơn. Năm 2015, tổng giá trị máy móc của CHLB Đức phục vụ trong ngành bao bì được Việt Nam nhập về là 85 triệu Euro, chỉ đứng sau Trung Quốc.

Với sự tăng trưởng trong kết nối giao thương công nghệ này, các chuyên gia kỳ vọng: các DN ngành bao bì Việt Nam có cơ hội hiện đại hóa sản xuất và tăng sản lượng, chất lượng sản phẩm.

Trong một hội thảo ngành bao bì thế giới được tổ chức vào tháng 9/2016 vừa qua, đánh giá về sự phát triển của ngành công nghiệp bao bì Việt Nam thời gian qua, ông Nguyễn Ngọc Sang – Chủ tịch Hiệp hội Bao bì Việt Nam (VIPAS) cho biết, đây là một trong những ngành công nghiệp phát triển mạnh ở Việt Nam, đặc biêt khi nhu cầu trong nước ngày càng cao đối với hàng hóa tiêu dùng, thực phẩm và mở rộng xuất khẩu những sản phẩm cần được đóng gói.

 

Ngành công nghiệp bao bì có cơ hội tăng trưởng tốt.

Lĩnh vực đóng gói bao bì tăng trưởng trung bình từ 15 – 20%/năm. Hiện tại, Việt Nam có hơn 900 nhà máy đóng gói bao bì, khoảng 70% trong số đó tập trung ở các tỉnh thành phía Nam. Thị trường có thể được chia làm 5 lĩnh vực chính bao gồm đóng gói bao bì nhựa, carton/giấy, đóng gói kim loại và các loại khác.

Bên cạnh đó, theo đánh giá của Hiệp hội Nhựa Việt Nam, trong những năm gần đây, ngành bao bì nhựa cũng đã phát triển mạnh với tốc độ tăng trưởng bình quân hơn 25%/năm. Bao bì nhựa phát triển mạnh do ngành lương thực, thực phẩm có bước tăng trưởng tốt.

Các DN đã đầu tư những dây chuyền công nghệ mới và cung ứng ra thị trường nhiều chủng loại bao bì cao cấp, đáp ứng được các tiêu chuẩn nghiêm ngặt về an toàn vệ sinh thực phẩm như bao bì sử dụng màng ghép phức hợp có chức năng gia tăng độ bảo quản, kéo dài thời gian sử dụng sản phẩm mà không cần dùng chất bảo quản…

Hiện tại, có khá nhiều DN đang tham gia vào thị trường bao bì với các chủng loại sản phẩm khác nhau như giấy, nhựa, màng kim loại, chai nhựa PET…

Phân khúc thị trường cũng có sự phân chia rõ rệt giữa các DN phục vụ cho các đối tượng khách hàng nhỏ lẻ và các DN bao bì có thương hiệu chiếm lĩnh hầu hết nhóm các khách hàng lớn.

Ngành bao bì nhựa và yếu tố thúc đẩy từ xu hướng ăn uống của người Việt

(Theo VCCI)

1. Khuynh hướng thay đổi trong cách ăn uống của người Việt

Chợ => Siêu thị

Việc phụ nữ và những người lớn tuổi đi chợ hằng ngày để tự tay lựa chọn trái cây rau quả đã trở thành việc quen thuộc với cuộc sống hằng ngày. Họ muốn mua thịt và hải sản tươi mới hằng ngày. Người Việt thích hải sản phải còn sống hoặc tươi mới được bắt trong ngày hôm đó. Tuy nhiên, siêu thị ngày nay đã phát triển trở thành những khu chợ truyền thống “trong nhà” bằng cách cung cấp những sản phẩm tương đương trong một môi trường sạch sẽ và vệ sinh hơn. Bên cạnh đó, với việc tận dụng quy mô buôn bán số lượng lớn để giảm giá thành, siêu thị ngày nay có lợi thế về giá hơn so với những người buôn bán nhỏ lẻ ở các khu chợ truyền thống.

Bữa ăn tự nấu => Bữa ăn mua mang đi

Việt Nam được xem là một thị trường tiềm năng khi nói về lượng tiêu thụ thức ăn chế biến sẵn với tốc độ tăng trưởng rất nhanh. 73% người Việt được hỏi đều trả lời họ sẽ sẵn lòng mua để dùng thử những loại đồ ăn đóng hộp mới xuất hiện trên thị trường. 51% người tiêu dùng (nhất là những người trẻ tuổi) trả lời họ sẽ chọn thức ăn đóng hộp và chế biến sẵn khi cần một bữa ăn nhanh. Đối với một số người Việt trong bối cảnh hiện đại hóa, bữa ăn sáng yêu thích rất tốn thời gian nếu chế biến tại nhà và quá rủi ro nếu ăn về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm ở những hàng quán ven đường.

2. Tăng trưởng của ngành nhựa

Sản lượng nhựa tăng với tốc độ ổn định khoảng 16% mỗi năm từ 2011-2015. Dự báo đến năm 2020, ngành công nghiệp nhựa nước ta sẽ duy trì mức tăng trưởng ổn định 11% hàng năm.

Nguồn: Bộ Công Thương, Hiệp Hội Nhựa Việt Nam, Ipsos Business Consulting

Trong phân khúc nhựa sử dụng cho hộ gia đình, lượng tiêu thụ bình quân của mỗi người Việt Nam tăng trung bình 14% mỗi năm trong giai đoạn 2011-2015 và dự báo sẽ tiếp tục tăng với tốc độ 10% từ 2015-2020. Năm 2014, ước tính trung bình một người Việt Nam tiêu thụ khoảng 55kg sản phẩm nhựa. Mặt hàng nội địa được dự báo sẽ chiếm tỉ trọng cao trong phân khúc này, khoảng 22% tổng sản phẩm toàn ngành.

Các sản phẩm chính trong tương lai sẽ bao gồm màng bọc thực phẩm, có nắp đậy dễ mở, không chứa chất độc hại, thực phẩm tiện dụng, có thể cho vào lò vi sóng, trọng lượng nhẹ, thời gian bảo quản lâu và sản phẩm có thể đóng lại sau khi sử dụng

3. Công nghiệp bao bì & đóng gói

Năm 2012, thị trường bao bì nhựa có giá trị 2.4 tỉ USD. Bao bì linh hoạt (trong ngành thực phẩm) và chai nhựa PET (trong ngành giải khát) có mức tăng trưởng nhanh nhất. Doanh nghiệp sản xuất (DNSX) trong nước chiếm thị phần lớn trong phân khúc sản xuất chai nhựa PET, trong đó 2 DN lớn nhất chiếm hơn 70% thị phần. Điển hình là vào năm 2012, DNSX Ngọc Nghĩa có thị phần hơn 30%. Giá trị thị trường năm 2012 ước tính đạt 282 triệu USD (chỉ tính riêng khu vực DNSX tư nhân).

Sản phẩm vật chứa như hộp, túi bằng PE và PP được sử dụng chủ yếu cho nông sản như gạo, đường, cà phê, hay hóa chất (phân bón). Phân khúc sản phẩm này có dung lượng thị trường đáng kể với khoảng hơn 2 tỉ túi nhựa được sản xuất hàng năm.

Ngành thực phẩm và đồ uống có giá trị xuất khẩu 29%, với mức tăng trưởng 15% hàng năm. Các mặt hàng xuất khẩu có sức cạnh tranh cao của Việt Nam như thủy sản, gạo và cà phê được dự đoán sẽ tiếp tục là nguồn tiêu thụ bao bì lớn.

Nhận định của IPSOS BUSINESS CONSULTING

• Trong tương lai, nhu cầu sản phẩm bao bì nhựa cao cấp từ thị trường quốc tế sẽ tăng. Để tăng sức cạnh tranh với các mặt hàng nước ngoài như Thái Lan và Trung Quốc, mẫu mã và kiểu dáng cần được chú trọng hơn nữa để đáp ứng thị hiếu của khách hàng nước ngoài.

• Ở thị trường nội địa, xu hướng thực phẩm đóng gói sẵn đang dần chuyển từ cửa hàng tạp hóa truyền thống sang phổ biến ở các siêu thị cũng như cửa hàng tiện lợi. Để theo kịp tốc độ đô thị hóa, sản phẩm bao bì nhựa cần đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng ở các tiêu chí sự tiện lợi, sạch sẽ, bắt mắt và khả năng bảo quản, đặc biệt ở phân khúc thực phẩm này, phân khúc có tăng trưởng cao với CARG 12.4% (2011 – 2018) .

NHÀ CUNG CẤP-SẢN XUẤT-THIẾT KẾ BAO BÌ NHỰA-BAO BÌ MỀM CHO CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP

Công ty TNHH Kỹ Thuật Bao Bì Toàn Cầu

Chuyên cung cấp các loại bao bì mềm (Flexible packaging) , bao bì nhựa (Plastic packaging), trong đó bao gồm các loại bao bì PP, bao bì PE .

Các loại bao bì nhựa , bao bì nylon này phục vụ rộng rãi trong tất cả các ngành như :  Bao bì cho ngành công nghiệp phụ trợ, bao bì nhựa cho ngành thực phẩm, bao bì nhựa cho ngành may mặc, bao bì nhựa cho ngành giấy, bao bì nhựa, bao bì mềm cho các ngành công nghiệp khác…

Với máy in ống đồng 8 màu hiện đại, công ty TNHH Kỹ Thuật Bao Bì Toàn cầu đáp ứng đầy đủ các nhu cầu của khách hàng về các sản phẩm bao bì nhựa (Plastic packaging) , bao bì nylon, bao bì PP, bao bì PE, bao bì màng ghép (multilayer film) PP/OPP; PE/OPP …in ống đồng với đa dạng màu sắc, bao bì nhiều kích cở, họa tiết, nội dung in ống đồng theo yệu cầu của quý khách hàng.

Ngoài máy in ống đồng 8 màu (8 colors gravure printing machine), công ty TNHH Kỹ thuật bao bì Toàn Cầu còn trang bị các máy gấp hông (Folding machine), máy hàn hông  (Side sealing machine), máy làm túi (Plastic bag making machine) … nhằm đáp ứng các yêu cầu đa dạng của khách hàng về các loại bao bì mềm (flexible packaging), bao bì nhựa (plastic packaging, nylon packing, nylon packaging) , các loại bao bì màng ghép phức hợp (complex membrane / multi-layer film packaging) phục vụ cho đa dạng nhu cầu của các ngành công nghiệp khác nhau như : Bao bì cho ngành may mặc (packaging for garment, clothing, OPP packaging for clothes, fashion…), bao bì cho ngành giấy (packaging for paper products) như bao bì nhựa mềm cho khăn giấy, bao bì nhựa mềm cho giấy vệ sinh các loại…(plastic packaging for tissue…), bao bì nhựa ghép phức hợp cho thực phẩm (multilayer film bag for food), bao bì màng ghép phức hợp cho ngành nông dược, bao bì cho ngành nông sản, bao bì cho ngành thú y…. và các loại bao bì mềm (flexible bag, packaging) bao bì nhựa (plastic bag, plastic packaging) cho các ngành công nghiệp phụ trợ ( plastic packaging for supporting industry)