Ngành bao bì nhựa và yếu tố thúc đẩy từ xu hướng ăn uống của người Việt

(Theo VCCI)

1. Khuynh hướng thay đổi trong cách ăn uống của người Việt

Chợ => Siêu thị

Việc phụ nữ và những người lớn tuổi đi chợ hằng ngày để tự tay lựa chọn trái cây rau quả đã trở thành việc quen thuộc với cuộc sống hằng ngày. Họ muốn mua thịt và hải sản tươi mới hằng ngày. Người Việt thích hải sản phải còn sống hoặc tươi mới được bắt trong ngày hôm đó. Tuy nhiên, siêu thị ngày nay đã phát triển trở thành những khu chợ truyền thống “trong nhà” bằng cách cung cấp những sản phẩm tương đương trong một môi trường sạch sẽ và vệ sinh hơn. Bên cạnh đó, với việc tận dụng quy mô buôn bán số lượng lớn để giảm giá thành, siêu thị ngày nay có lợi thế về giá hơn so với những người buôn bán nhỏ lẻ ở các khu chợ truyền thống.

Bữa ăn tự nấu => Bữa ăn mua mang đi

Việt Nam được xem là một thị trường tiềm năng khi nói về lượng tiêu thụ thức ăn chế biến sẵn với tốc độ tăng trưởng rất nhanh. 73% người Việt được hỏi đều trả lời họ sẽ sẵn lòng mua để dùng thử những loại đồ ăn đóng hộp mới xuất hiện trên thị trường. 51% người tiêu dùng (nhất là những người trẻ tuổi) trả lời họ sẽ chọn thức ăn đóng hộp và chế biến sẵn khi cần một bữa ăn nhanh. Đối với một số người Việt trong bối cảnh hiện đại hóa, bữa ăn sáng yêu thích rất tốn thời gian nếu chế biến tại nhà và quá rủi ro nếu ăn về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm ở những hàng quán ven đường.

2. Tăng trưởng của ngành nhựa

Sản lượng nhựa tăng với tốc độ ổn định khoảng 16% mỗi năm từ 2011-2015. Dự báo đến năm 2020, ngành công nghiệp nhựa nước ta sẽ duy trì mức tăng trưởng ổn định 11% hàng năm.

Nguồn: Bộ Công Thương, Hiệp Hội Nhựa Việt Nam, Ipsos Business Consulting

Trong phân khúc nhựa sử dụng cho hộ gia đình, lượng tiêu thụ bình quân của mỗi người Việt Nam tăng trung bình 14% mỗi năm trong giai đoạn 2011-2015 và dự báo sẽ tiếp tục tăng với tốc độ 10% từ 2015-2020. Năm 2014, ước tính trung bình một người Việt Nam tiêu thụ khoảng 55kg sản phẩm nhựa. Mặt hàng nội địa được dự báo sẽ chiếm tỉ trọng cao trong phân khúc này, khoảng 22% tổng sản phẩm toàn ngành.

Các sản phẩm chính trong tương lai sẽ bao gồm màng bọc thực phẩm, có nắp đậy dễ mở, không chứa chất độc hại, thực phẩm tiện dụng, có thể cho vào lò vi sóng, trọng lượng nhẹ, thời gian bảo quản lâu và sản phẩm có thể đóng lại sau khi sử dụng

3. Công nghiệp bao bì & đóng gói

Năm 2012, thị trường bao bì nhựa có giá trị 2.4 tỉ USD. Bao bì linh hoạt (trong ngành thực phẩm) và chai nhựa PET (trong ngành giải khát) có mức tăng trưởng nhanh nhất. Doanh nghiệp sản xuất (DNSX) trong nước chiếm thị phần lớn trong phân khúc sản xuất chai nhựa PET, trong đó 2 DN lớn nhất chiếm hơn 70% thị phần. Điển hình là vào năm 2012, DNSX Ngọc Nghĩa có thị phần hơn 30%. Giá trị thị trường năm 2012 ước tính đạt 282 triệu USD (chỉ tính riêng khu vực DNSX tư nhân).

Sản phẩm vật chứa như hộp, túi bằng PE và PP được sử dụng chủ yếu cho nông sản như gạo, đường, cà phê, hay hóa chất (phân bón). Phân khúc sản phẩm này có dung lượng thị trường đáng kể với khoảng hơn 2 tỉ túi nhựa được sản xuất hàng năm.

Ngành thực phẩm và đồ uống có giá trị xuất khẩu 29%, với mức tăng trưởng 15% hàng năm. Các mặt hàng xuất khẩu có sức cạnh tranh cao của Việt Nam như thủy sản, gạo và cà phê được dự đoán sẽ tiếp tục là nguồn tiêu thụ bao bì lớn.

Nhận định của IPSOS BUSINESS CONSULTING

• Trong tương lai, nhu cầu sản phẩm bao bì nhựa cao cấp từ thị trường quốc tế sẽ tăng. Để tăng sức cạnh tranh với các mặt hàng nước ngoài như Thái Lan và Trung Quốc, mẫu mã và kiểu dáng cần được chú trọng hơn nữa để đáp ứng thị hiếu của khách hàng nước ngoài.

• Ở thị trường nội địa, xu hướng thực phẩm đóng gói sẵn đang dần chuyển từ cửa hàng tạp hóa truyền thống sang phổ biến ở các siêu thị cũng như cửa hàng tiện lợi. Để theo kịp tốc độ đô thị hóa, sản phẩm bao bì nhựa cần đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng ở các tiêu chí sự tiện lợi, sạch sẽ, bắt mắt và khả năng bảo quản, đặc biệt ở phân khúc thực phẩm này, phân khúc có tăng trưởng cao với CARG 12.4% (2011 – 2018) .

Ông giáo sư trên bó rau có đáng tin?

(Theo TBKTSG)

Đã không còn lạ lùng nữa việc những bó rau trong siêu thị có bao bì in tên một vị giáo sư ngành nông nghiệp để “bảo chứng” rằng đó là rau sạch. Nhưng bạn là người đi mua rau sạch, điều ấy có làm bạn yên tâm hơn?

Đầu tư vào bao bì, hình ảnh, xây dựng thương hiệu một thời được coi là cách gia tăng giá trị các sản phẩm nông nghiệp nói chung. Việc kêu gọi nông dân, các cơ sở chế biến thực phẩm truyền thống phải hiện đại hóa, đầu tư đóng gói sản phẩm chuyên nghiệp cách đây mươi mười lăm năm được ưu tiên. Rõ ràng đó là một lộ trình hợp lý để đầu ra sản phẩm có vẻ chuyên nghiệp hơn. Hình ảnh và đời sống người làm ra sản phẩm đó cũng có vẻ bớt lấm lem trong đời sống đang hiện đại hóa muôn mặt.

Giai đoạn bao bì đi cùng với đóng chuẩn chất lượng, kéo theo đó là sự thay đổi về phương thức làm ra sản phẩm đạt tiêu chí, quy trình, đảm bảo những hệ tiêu chuẩn chất lượng. Sản xuất truyền thống đi vào quy trình công nghiệp, tính chuyên nghiệp thể hiện nơi bao bì, nhãn mác, logo. Sự yên tâm của khách hàng về sản phẩm được căn cứ trên bao bì. Nói cách khác, bao bì gửi tín hiệu về chuẩn mực chất lượng đến khách hàng.

Mua hàng rõ nguồn gốc, có lẽ là thông điệp được các cơ quan chức năng, chuyên gia khuyến cáo người dân sau những đợt bê bối vệ sinh an toàn thực phẩm, có thể được diễn dịch một cách nôm na rằng, nên mua những gì có bao bì nhãn mác rõ ràng để đảm bảo chất lượng và để tiện truy cứu khi có vấn đề về chất lượng.

Nhưng cuộc sống nào có đơn giản vậy. Niềm tin con người khó có thể đóng một cây đinh yếu đóng trên bờ tường nhũn. Chỗ nọ, chỗ kia, người nông dân từ bỏ các hợp tác xã, không tuân thủ quy trình sản xuất đảm bảo an toàn nhưng vẫn được các cơ sở, nhà phân phối thu mua, đóng chuẩn để bán ra thị trường phục vụ nhu cầu số đông, những vụ xì căng đan về dư lượng hóa chất trong rau đội lốt bao bì sạch xuất hiện nơi nọ nơi kia lại khiến người tiêu dùng hoang mang. Niềm tin vào bao bì sau những vụ việc này, đã bị lung lay. Cảm giác bội tín của khách hàng là có thật, khi họ nhận ra trên thực tế, mua một bó rau có bao bì có ghi nguồn gốc, nhãn mác ở siêu thị có giá gấp đôi, gấp ba ngoài chợ, nhưng thực tế chất lượng chẳng trội hơn chút nào. Bỏ tiền để mua sự đóng gói, mua một sự an tâm hão huyền?

Con đường từ logo bao bì đã đến lúc phải đi xa hơn. Một hôm bạn nhìn thấy tên của các vị giáo sư khả kính, các viện nghiên cứu được đóng lên những bó rau để chứng minh một điều: đây là bó rau sạch. Cay đắng làm sao khi khách hàng vốn đang tuột dốc niềm tin, sẽ phải truy vấn tới cùng, rằng, liệu ông giáo sư hay cái viện nọ, trung tâm kia có đi giám sát quy trình chất lượng hay chỉ cho thuê tên, bán uy tín trên mỗi bó rau? Sự rẻ rúng đau đớn của danh vị bấy lâu nào phải chỉ nằm ở việc cơ sở đào tạo học hàm học vị mọc lên như nấm mà còn nằm ở chỗ người ta dùng những chức danh, học hàm học vị ấy vào việc gì?! Vậy là, trong một xã hội mất niềm tin, bao bì bó rau có khi cũng đặt lại vấn đề về giá trị của những vị giáo sư, tiến sĩ dễ như chơi!

Bạn còn biết tin vào điều gì?

Hãy đến những tiệm rau organic một đôi lần để rồi thấy cái niềm tin ấy được chuyển hóa từ bao bì sang… không bao bì, từ bản địa sang hướng ngoại, từ siêu thị sản phẩm đóng gói hàng loạt sang… nhà vườn truyền thống thủ công. Bó rau trong các cửa hàng organic đôi khi không có nhãn mác, xuất xứ, nhưng chủ cửa hàng đã niêm yết trước mắt khách một bảng nguyên tắc sản xuất hữu cơ theo công nghệ Singapore, Nhật, hay châu Âu với mô hình trang trại nhỏ. Rau được đặt trên những gian kệ đẹp, thân thiện, tạo cảm giác trong lành, khả tín. Vậy là đã có thể thuyết phục người tiêu dùng. Khách hàng sẵn sàng mua những bó rau cỏ vẻ “nhà trồng” với giá gấp bốn, gấp năm lần giá bó rau đóng gói có “nguồn gốc” sản xuất hàng loạt được bày bán trong siêu thị.

Vậy là, đến đây, con đường từ bó rau không nhãn mác bao bì đến có nhãn mác bao bì, rồi từ chỗ có nguồn gốc chứng nhận đến lột bỏ bao bì là một hành trình của niềm tin tiêu dùng giữa bối cảnh mà tính chính danh bị thử thách, niềm tin xã hội đặt vào các giá trị, bảo chứng chuyên môn đang bị khủng hoảng trầm trọng.

 

Cục diện mới của thị trường thực phẩm đóng gói ở nông thôn

(Thanh Nien)

 

 

Chinh phục thị trường nông thôn đang là cuộc đua của nhiều nhà sản xuất. Hiểu rõ được tâm lý thói quen người tiêu dùng cũng như ẩm thực vùng miền, các nhãn hàng thực phẩm đóng gói nội địa VN đang dần chiếm thế thượng phong.

Nhãn hiệu nội chinh phục người dùng nông thôn
Ông Nguyễn Huy Hoàng, Giám đốc Phát triển Kinh doanh của Kantar Worldpanel cho biết: thị trường hàng tiêu dùng nhanh (FMCG) của cả năm 2015 lẫn nửa đầu năm 2016 đều tăng trưởng với tốc độ ì ạch, chỉ xoay quanh con số 5%, quá thấp so với tốc độ 2 con số của những năm về trước. Tuy nhiên dư địa để tăng trưởng ở thị trường nông thôn vẫn còn rất lớn. Theo nghiên cứu của công ty này, trong khoảng 100 ngành hàng FMCG đang bán tại nông thôn vẫn “có đến 70% ngành hàng có mức tiếp cận người mua dưới 50%”.
Tuy nhiên, ông Hoàng cũng cho rằng cuộc chơi bán hàng ở nông thôn không hề là chuyện đơn giản. Đã có nhiều chuyến hàng được chở đến khu vực này, nhưng rồi hầu như phần lớn đứt đoạn, “gãy gánh” và nhiều công ty đã phải bỏ cuộc. Khi thị trường đứng yên, hoặc sụt giảm, việc thu hút thêm người mua mới là yếu tố quan trọng cho một nhãn hàng tăng trưởng. Trong bối cảnh ảm đạm của nền kinh tế, người tiêu dùng trở nên thận trọng hơn và mua sắm thông minh hơn. Với thu nhập của một hộ dân trung bình 7 triệu đồng/tháng, người tiêu dùng nông thôn mua hàng không nhiều, nhưng họ mua có sự lựa chọn, chỉ những gì thiết thân, phục vụ đúng nhu cầu, giá cả phải chăng. Với các thực phẩm đóng gói, không chỉ là giá mà sản phẩm phải có chất lượng, hợp khẩu vị, đảm bảo vệ sinh, theo nhận xét của vị đại diện Kantar Worldpanel. Để chinh phục thị trường và người dân nông thôn, các nhãn hàng cần phải có một sự đầu tư và chuẩn bị kỹ lưỡng.
Không ít doanh nghiệp đã nhận ra điều này và đã có các chiến lược dài hạn, tập trung cho khu vực nông thôn. Báo cáo thị trường hàng tiêu dùng nhanh (FMCG) của Kantar Worldpanel cũng cho thấy trong 5 nhóm ngành hàng tiêu dùng nhanh, hai nhóm chăm sóc cá nhân và chăm sóc gia đình vẫn là sân chơi của các công ty đa quốc gia, nhưng ba nhóm còn lại gồm sữa, thực phẩm đóng gói và nước giải khát đã là cuộc chơi do các công ty nội địa cầm chịch. Ở ngành thực phẩm đóng gói, “3 Miền” đã chính thức trở thành thương hiệu mì gói được chọn mua nhiều ở khu vực này suốt từ tháng 9 năm ngoái đến nay.
Món ngon Việt cho gia đình Việt
Theo công bố gần đây nhất, tháng 7.2016, của công ty nghiên cứu thị trường uy tín hàng đầu trên thế giới Kantar Worldpanel có thể làm không ít người ngạc nhiên: thương hiệu mì gói “3 Miền” của công ty UNIBEN là thương hiệu được người tiêu dùng chọn mua nhiều trong suốt gần một năm qua, từ tháng 9 năm ngoái đến nay, ở khu vực nông thôn, với 26% số lượng gói mì được tiêu thụ, nhiều hơn 4% so với thương hiệu đứng kế tiếp, chiếm 22% doanh số. Vươn lên mạnh mẽ ổn định từ năm 2015 đến nay, mì “3 Miền” vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng đáng kinh ngạc ở mức 22% về số lượng, 16% về giá trị, lọt vào tốp nhãn hiệu tăng trưởng nhanh nhất tại khu vực nông thôn, và thuộc nhóm các sản phẩm được người tiêu dùng lựa chọn nhiều nhất.
Theo nhận xét của ông Hoàng, Kantar Worldpanel: từ tốc độ tăng trưởng về số lượng, giá trị, lẫn điểm tiếp cận người tiêu dùng mới, số liệu cho thấy mì “3 Miền”đã có sự tăng trưởng vượt bậc. UNIBEN có vẻ đã làm rất tốt các yếu tố quan trọng về sản phẩm, giá cả, phân phối, quảng cáo khuyến mãi và đã thành công. “3 Miền” phát triển sản phẩm theo hướng nghiên cứu hương vị của các món ăn truyền thống, tìm tòi chắt lọc từng nét đặc trưng nhất của các món ngon từ khắp ba miền, để ứng dụng vào các sản phẩm của mình, tạo ra các món ngon “đậm đà hương vị Việt”. Một nhãn hiệu khác của UNIBEN là Reeva cũng thường xuyên giới thiệu những món ăn “mới lạ, thơm ngon, bổ dưỡng”, có thể kể đến như mì lẩu nấm chua cay, một sản phẩm đang được người tiêu dùng rất ưa chuộng trong mùa Vu lan năm nay”, ông Nguyễn Ngọc Kinh Luân, đại diện của UNIBEN chia sẻ.
Được biết, từ cuối năm 2015, UNIBEN đã đưa vào hoạt động thêm một nhà máy mới tại Hưng Yên với tổng vốn đầu tư 1.000 tỉ đồng, được thiết kế bởi DWP và tư vấn xây dựng bởi Royal Haskoning DHV (Hà Lan), theo tiêu chuẩn châu Âu. Nhà máy sản xuất nước mắm, hạt nêm và thực phẩm ăn liền này được được xây dựng trên diện tích đất 6 ha, với dây chuyền sản xuất gần như tự động hóa hoàn toàn, được nhập khẩu từ Đức, Nhật Bản… mỗi năm có thể cung cấp trên 1,2 tỉ đơn vị sản phẩm, đảm bảo chất lượng cho cả thị trường nội địa và xuất khẩu.